24 tháng 2, 2016

BÀI VIẾT HAY QUÁ (Bê từ Blog Tôi Thích Đọc)
Quyết tâm không còn là nô lệ nữa thì ta tự do
Charles A.O. Makmot - Tôi và vài người bạn đang đọc đi đọc lại cuốn sách miễn phí tuyệt vời, Từ Độc tài Đến Dân chủ của Gene Sharp. Chương tôi thích nhất là chương ba có tựa đề “ Quyền lực đến từ đâu?” Trong chương này tác giả trích truyện ngụ ngôn Trung Hoa vào thế kỷ thứ mười bốn của Lưu Cơ:

Một ông lão ở nước Chu còn sống nhờ bắt khỉ phục vụ mình. Người nước Chu gọi ông là “hầu công”. Mỗi buổi sáng, ông lão đều tập họp bọn khỉ lại ở ngoài sân, rồi ra lệnh cho con khỉ già nhất dẫn cả bọn lên núi hái trái cây. Theo luật mỗi con khỉ phải nộp một phần mười số trái cây hái được cho ông lão. Con nào không làm đúng như thế sẽ bị đánh bằng roi dã man. Tất cả những con khỉ đều khổ sở vô cùng, nhưng không dám than van.
Ngày nọ, một con khỉ nhỏ hỏi những con khỉ khác:

“Có phải ông lão đã trồng tất cả các cây ăn trái này?”

Những con này nói: “Không, chúng mọc tự nhiên.”

Con khỉ nhỏ hỏi thêm: “ Vậy chúng ta có thể lấy trái cây mà chẳng cần xin phép ông lão?”

Những con này đáp: “ Đúng, chúng ta ai lấy cũng được.”

Con khỉ nhỏ hỏi tiếp: “Như vậy, tại sao chúng ta nên lệ thuộc vào ông lão; tại sao tất cả chúng ta phải phục vụ lão?”

Con khỉ nhỏ chưa nói dứt lời thì tất cả những con khỉ khác bất ngờ ngộ ra và thức tỉnh.

Ngay tối hôm ấy, canh chừng thấy ông lão đã ngủ say, bọn khỉ phá hủy tất cả các rào chắn của trại đã giam cầm chúng, rồi phá hủy tan tành cả trại. Chúng cũng lấy tất cả trái cây ông lão cất trong kho đem vào rừng, và không bao giờ trở lại. Ông lão cuối cùng chết đói.

Gene Sharp chẳng do dự trích thêm lời bàn của Úc Ly Tử:


“ Trên đời có nhiều kẻ trị dân bằng thủ đoạn chứ không phải bằng đạo lý chính nghĩa. Thử hỏi họ có khác gì hầu công trong truyện. Họ không biết mình dại. Vì một khi người dân hiểu ra, thủ đoạn của họ chẳng còn dùng được nữa.”

Câu hỏi xác đáng cho tôi và tôi tin cũng cho các bạn tôi những người yêu nước là: Quyền lực của người lãnh đạo của bất luận quốc gia nào xuất phát từ đâu? Nếu chúng ta có thể hiểu thấu được cách thức quyền lực chính trị hoạt động này, chúng ta có thể vận dụng sự thấu hiểu ấy tốt hơn. Vì thế tôi muốn bàn đến vài điểm rất quan trọng mà Lưu Cơ đã ám chỉ trong ngụ ngôn rất hay của ông:


1 Ông lão còn sống nhờ bắt khỉ phục vụ mình.

Truyện kể ông lão còn sống nhờ bắt khỉ phục vụ mình. Hãy lưu ý truyện không nói bọn khỉ còn sống nhờ phục vụ ông lão. Những con khỉ này có thể tự sống được như chúng đã tự sống được trong biết bao nhiêu năm trời trước khi ông lão đến bắt chúng phục vụ ông. Chắc hẳn lúc ấy ông còn trẻ khi chúng bắt đầu phục vụ ông rồi từ đấy cả một thế hệ khỉ ra đời chỉ biết phục vụ ông.

Ngày xưa chắc hẳn ông đã làm nên kỳ tích anh hùng là rào chiếm đất đai, hạ sát những loại thú ăn thịt khỉ cho nên những con khỉ cảm thấy có bổn phận phục vụ ông. Mặt khác, ông lão có thể đánh bại con khỉ đầu đàn và rồi đe dọa giết sạch tất cả các con khỉ còn lại. Như vậy, bọn khỉ có thể sợ quá phải khuất phục.

2. Mỗi buổi sáng, ông lão đều tập họp bọn khỉ lại ở ngoài sân, rồi ra lệnh cho con khỉ già nhất dẫn cả bọn lên núi…

Ông lão chọn ra những con khỉ cầm đầu dựa trên những phẩm chất biểu lộ nhưng ông cũng lưu tâm đến phong tục văn hóa của khỉ. Vì vậy con khỉ lớn tuổi nhất, có lẽ cũng mạnh nhất, được chọn làm con khỉ đầu đàn và trách nhiệm của nó là chỉ huy những con khác.

3.Theo luật mỗi con khỉ phải nộp một phần mười số trái cây hái được cho ông lão.

Ai đặt ra luật này, tôi hỏi? Tại sao một phần mười mà không một phần trăm? Những con khỉ mà trước khi ông lão xuất hiện đều tự do hái và ăn trái cây nhiều vô kể trong thiên nhiên có được hỏi ý kiến về luật này? Tôi chắc chắn có nhiều con khỉ hỏi con khỉ đầu đàn những câu hỏi này. Tôi tự hỏi con khỉ đầu đàn trả lời chúng ra sao.

4. Con nào không làm đúng như thế sẽ bị đánh đập dã man.

Tôi chợt nảy ra câu hỏi thú vị là: Làm thế nào ông lão tuy không đi vào rừng để đếm mỗi ngày mỗi con khỉ hái được bao nhiêu trái cây mà lại biết được con khỉ nào không nộp đủ 10%? Phải chăng, dưới sự chỉ dẫn của con khỉ đầu đàn, ông đã chỉ định vài con khỉ làm công việc “kiểm kê” vào lúc cuối ngày khi tất cả những con khỉ đi hái trái cây trở về? Phải chăng những con khỉ được giao việc kiểm kê không phải hái trái cây mà chúng còn được hưởng thành quả lao động của bạn mình ở một nơi đặc biệt mà ông lão đã dành riêng cho chúng? Phải chăng chúng đã chọn ra 10 % trái cây nào ngon nhất và to nhất từ trong đống trái cây của bạn mình nên nhờ thế ăn ngon hơn những con khỉ khác rất nhiều. Bởi lẽ đàn khỉ chắc hẳn hái được rất nhiều trái cây cho nên những con khỉ làm công việc kiểm kê này tha hồ mà chọn lựa trái cây vì ông lão không ngừng ban cho chúng rất nhiều trái cây để bọn chúng luôn trung thành với ông.

Biết ông lão không phải lúc nào cũng ở gần bên và chắc tin tưởng chúng mà giao chìa khóa nhà kho, những con khỉ được hưởng đặc quyền này có thể ăn xén trái cây trong kho mà ông lão không biết?

Phải chăng ông lão thực sự có thời gian và sức lực để đánh bọn khỉ bằng roi? Tôi nghĩ ông chọn những con khỉ khỏe nhất để thay ông đánh những con khỉ khác.

5. Tất cả những con khỉ đều khổ sở vô cùng, nhưng không dám than van.

Lời khẳng định này thật thú vị và rất gợi mở bởi lẽ chắc hẳn có vài con khỉ được ban nhiều đặc quyền. Phải chăng nhiều con khỉ khổ sở nhưng vẫn tin tưởng cuộc sống của chúng dù sao cũng tốt hơn dưới sự bảo vệ của ông lão? Phải chăng ông hay đe dọa bọn khỉ là những loại thú ăn thịt chúng rồi sẽ quay trở lại đến mức chúng đành cam phận? Phải chăng những con khỉ trẻ ra đời dưới sự thống trị của ông không thể nào liên hệ với quá khứ nên chỉ biết phục tùng theo? Hay những con khỉ lớn tuổi hơn, sau vài lớp học với ông lão về quá khứ kinh hoàng của chúng, chỉ truyền đạt lại những chuyện đáng sợ về những con khỉ bị hổ báo ăn thịt?

Phải chăng chúng cố tình quên những câu chuyện về tự do? Khi chúng tự do đi lại khắp nơi trong rừng, khi chúng thích đâu ngủ đó? Phải chăng có thể chúng làm như không biết sự thật là tất cả các luật lệ đều được tất cả các con khỉ tán thành?

Tại sao, với tất cả những đau khổ này, chúng không dám than van? Phải chăng vì than van bị cấm hay có thể bị trừng phạt với nhiều roi vọt hay còn tàn tệ hơn?

6. Ngày nọ, một con khỉ nhỏ hỏi những con khỉ khác: “Có phải ông lão đã trồng tất cả các cây ăn trái này?” Những con này nói: “Không, chúng mọc tự nhiên.” Con khỉ nhỏ hỏi thêm: “ Vậy chúng ta có thể lấy trái cây mà chẳng cần xin phép ông lão?” Những con này đáp: “ Đúng, chúng ta ai lấy cũng được.”

Những câu hỏi rất trọng tâm! Những câu hỏi này không chỉ đi thẳng vào điểm then chốt của nỗi khổ đau của chúng mà những câu hỏi này còn được con khỉ nhỏ hỏi một cách rất thông minh. Con khỉ này chắc hẳn đã bị những con khỉ khác khỏe hơn làm việc cho ông lão bắt nạt nhiều nhất nhưng dẫu sao nó vẫn thương những con khỉ đồng loại. Nó ắt hẳn đã nghe mẹ kể những chuyện về thời tự do ngày xưa nên ao ước những ngày tự do ấy trở lại.

Khi chúng vào rừng hái trái, tôi đoán nó nhanh chóng tách ra khỏi đàn. Nó ắt hẳn đã tiếp xúc với những con khỉ chưa bao giờ chịu cảnh nô lệ. Nhưng thay vì xin tỵ nạn và ở lại với những con khỉ tự do ấy, nó chọn quay trở về với đàn và chia sẻ những câu chuyện này với những con khỉ bạn. Nó quyết chí tự học hỏi rất cần cù cách thức giải phóng đồng loại mình.

Nó càng ngày càng can trường hơn bất chấp bao hăm dọa và răn đe của con khỉ đầu đàn và những con khỉ khác nịnh hót ông lão. Vào ngày nó hỏi câu hỏi ấy, nó tự nhiên trở thành thủ lãnh của đàn khỉ.

Lời đáp cho những câu hỏi này ắt hẳn phải là kết quả của nhiều lần huấn luyện mà nó đã hướng dẫn cho một số con khỉ được tuyển chọn để dạy chúng rằng chúng có thể tự do và cũng chỉ cho chúng thấy trái cây thực ra là quyền của tất cả con khỉ.

Tại sao lại phải hỏi? Vì lời giải cho cuộc đấu tranh đầy thử thách của chúng đã luôn luôn có sẳn ở trong lòng chúng! Hãy lưu ý là những câu hỏi của con khỉ nhỏ cũng diễn ra theo từng giai đoạn và ắt hẳn trước đấy những câu hỏi này ban đầu đã được đặt ra cho một nhóm nhỏ những con khỉ nhỏ. Khi số lượng thành viên nòng cốt tăng lên với những con khỉ càng biết nhiều hơn và khôn ngoan hơn thì chính tự do đã luôn luôn có sẳn ở trong lòng chúng bắt đầu thể hiện!

7. Con khỉ nhỏ hỏi tiếp: “Như vậy, tại sao chúng ta nên lệ thuộc vào ông lão; tại sao tất cả chúng ta phải phục vụ lão?”

Sau khi cuộc mưu tìm tự do của tất cả con khỉ đã chín muồi, con khỉ nhỏ nhưng khôn ngoan hỏi câu hỏi sinh tử mà phá tan xiềng xích gông cùm đang giam hãm chúng!

8. Con khỉ nhỏ chưa nói dứt lời thì tất cả những con khỉ khác bất ngờ ngộ ra và thức tỉnh.

Thật là ngày tuyệt vời khi tất cả những con khỉ bao gồm con khỉ đầu đàn, các con khỉ thi hành luật một phần mười và những con khỉ đánh roi trừng phạt thảy đều trở nên thấu hiểu và nhận thức tất cả chúng đều đang ở trong nhà tù. Con khỉ đầu đàn và lũ khỉ nịnh nọt chắc xấu hổ và ân hận biết bao.!
Tuy nhiên chúng mau chóng tha thứ cho nhau và nghĩ ra kế hoạch.

9. Ngay tối hôm ấy…

Tại sao vào chính ngay đêm ấy? Vì không có con khỉ nào, sau khi khám phá mình có thể tự do, lại muốn ở tù thêm dù chỉ một ngày. Tự do trở thành nhu cầu khẩn thiết và cấp bách mà chẳng có gì ngăn chặn được.

10.… canh chừng thấy ông lão đã ngủ say,..

Tại sao giữa đêm khuya vắng lặng? Tại sao không giữa ban ngày để chúng có thể nhìn rõ ràng hơn cái gì chúng cần phải phá hủy? Và tại sao chờ ông lão ngủ say? Tại sao, chúng đánh lúc ông lão dể bị tổn thương nhất?

 

11. Bọn khỉ phá hủy tất cả các rào chắn của trại đã giam cầm chúng, rồi phá hủy tan tành cả trại.

Tại sao lại phá hủy tất cả các rào chắn của trại giam nếu chúng không dự định trở lại? Vì những ai đã thoát được sẽ không muốn những kẻ khác phải trải qua cảnh nô lệ như mình! Ông lão biết đâu có thể lại đi bắt bầy khỉ mới về phục vụ ông?
Chúng phá tan tành cả trại. Chúng không để lại dấu vết nào của cuộc đời nô lệ của chúng trước đây.

11. Chúng cũng lấy tất cả trái cây ông lão cất trong kho…

Tại sao không để lại cho ông một ít trái cây ông có ở trong kho? Vì trước tiên tất cả trái cây đều thuộc về chúng cho nên chúng phải lấy lại. Bất công đã gây ra phải được sửa sai.

12. đem vào rừng…

Tại sao không đuổi ông lão đi và ở lại trong nhà ông, qua đấy chế nhạo ký ức tàn ác của ông? Chính là vì lý do chúng hành động không phải vì căm thù mà vì công lý. Chúng cũng không muốn chính cách đối xử tàn ác như thế có chỗ để lại trỗi dậy lần nữa. Chúng ra đi bỏ lại đằng sau tất cả mọi thứ.

13. và không bao giờ trở lại.

Chúng đã hoàn toàn từ bỏ trong tâm hồn và thể chất cách đối xử độc đoán mà chúng đã chịu đựng và sẽ không bao giờ trở lại với tình cảnh ấy.

14. Ông lão cuối cùng chết đói.

Điều thú vị là chúng để cho ông lão sống. Ông đã già rồi, chúng có thể giết ông lão để thỏa mãn sự trả thù nhưng thay vì thế chúng quyết định từ chối cho ông chính điều mà giúp ông còn sống. Đó là sự phục vụ, phục tùng, và trung thành của chúng.

Ông lão chỉ còn lại một số phận duy nhất. Chết đói.

“ Trên đời có nhiều kẻ trị dân bằng thủ đoạn chứ không phải bằng đạo lý chính nghĩa. Thử hỏi họ có khác gì hầu công trong truyện. Họ không biết mình dại. Vì một khi người dân hiểu ra, thủ đoạn của họ chẳng còn dùng được nữa.”

Vậy, quyền lực đến từ đâu??

Charles A.O. Makmot
Trần Quốc Việt dịch

Dịch giả gửi tới Dân Luận



Nguồn: Dịch từ blog Afrikanpatriot ngày 4/5/2012. Tựa đề của người dịch là lời của Étienne de La Boétie trong tác phẩm kinh điển đầu tiên về bất bạo động“ Discourse on Voluntary Servitude” được viết ra cách đây gần 500 năm.

https://afrikanpatriot.wordpress.com/2012/05/04/the-monkey-master-fable-whence-comes-the-power/
(Theo Dân Luận)
BÀI VIẾT NÀY RẤT ĐÁNG QUAN TÂM 
 ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI YÊU TỔ QUỐC VIỆT NAM

Tướng Lê Mã Lương: "Không sợ chiến tranh nên mới có hòa bình"



Chúng ta đã để lại “khoảng lặng” hàng thập kỷ về chiến tranh Biên giới 1979. Sự thiếu sót này là có tội với lịch sử, tiền nhân, đồng bào...


LTS: Thông tin thời gian tới, khi công bố khung chương trình tổng thể, chương trình bộ môn, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét để đưa nội dung về các cuộc chiến tranh vệ quốc bảo vệ biên giới, hải đảo (1976 - 1988) vào sách giáo khoa khiến dư luận hết sức quan tâm.


Trước đó, nội dung về cuộc chiến tranh vệ quốc này chỉ được đề cập rất ít trong sách giáo khoa...


Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc phỏng vấn với Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân sự Việt Nam.


PV: Theo ông, cần nhìn nhận như thế nào cho đúng với bản chất cuộc chiến tranh Biên giới 1979?


Tướng Lê Mã Lương: Về bản chất, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược mà đối phương đã có ý đồ (từ những năm 50 của thế kỷ trước), nhằm đưa các nước Đông Nam Á vào trong quỹ đạo của Trung Quốc.


Mặt khác, Việt Nam là nước có một vị trí chiến lược, địa chính trị cực kỳ quan trọng ở Đông Nam Á.


Trong lịch sử, Trung Hoa đã phát động 16 cuộc chiến tranh lớn hòng thôn tính Việt Nam, dùng Việt Nam để thôn tính Đông nam Châu Á.


Nhà cầm quyền Trung Quốc lúc bấy giờ muốn nắm Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, tạo hành lang xâm nhập Đông Nam Á.


Họ coi chúng ta là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược “trỗi dậy Trung Hoa” như cái cách ông Chu Ân Lai từng nói trong cuộc gặp giữa đại biểu 4 đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Lào) tại Quảng Đông tháng 9/1963.


"Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cửa một con đường xuống Đông Nam châu Á..."


Đó là nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế, ngăn cản cách mạng của chúng ta lớn mạnh để tiện thực hiện âm mưu mở rộng ảnh hưởng của mình. 


Khi ý đồ kiềm chế không thực hiện được, từ chỗ bí mật, họ chuyển sang công khai thù địch với Việt Nam và trắng trợn tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với những tuyên bố lừa bịp như “dạy cho Việt Nam một bài học”, “cuộc đánh trả tự vệ”…




Thiếu tướng Lê Mã Lương: Trong lịch sử, Trung Hoa đã phát động 16 cuộc chiến tranh lớn hòng thôn tính Việt Nam(ảnh: QUỐC TOẢN).


Ngày 5/3/1979, gần 20 ngày sau khi tấn công xâm lược Việt Nam, quân Trung Quốc chỉ tiến sâu được 10 km, đồng thời lực lượng bị tổn thất lớn, có nguy cơ sa lầy vào cuộc chiến này.


Mặt khác, trước sức ép của dư luận trong nước và thế giới, đặc biệt là việc Liên Xô đưa lượng lớn binh sĩ, hỏa lực, áp sát biên giới Trung – Xô, đã buộc Đặng Tiều Bình phải tuyên bố rút quân, chấp nhận thất bại cay đắng tại chiến tranh Biên giới. 


Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc tiếp tục kéo dài ở biên giới tỉnh Hà Giang, đặc biệt ác liệt ở Vị Xuyên những năm 1984 - 1986.


Rõ ràng, đây là cuộc chiến xâm lược thực sự, không đơn thuần là sự “dằn mặt” của Trung Quốc như cách hiểu của nhiều người.


Bởi lẽ không có nước nào dại dột đến mức đưa hàng chục vạn quân cùng nhiều vũ khí, khí tài áp sát biên giới nước khác, đồng thời chịu thiệt hại về mình, rồi lớn tiếng tuyên bố đó là “đòn cảnh cáo”, “dạy bài học”.  


Và nếu không tỉnh táo, nhận định trước tình hình, chủ động ứng phó kịp thời chúng ta đã mất nhiều tỉnh biên giới phía Bắc…


Cũng cần phải nói thêm rằng, trên thế giới chưa có nhà lãnh đạo một nước nào mang danh là cách mạng, là “xã hội chủ nghĩa” lại cư xử với bạn bè một cách thô lỗ, tồi tệ như những nhà cầm quyền Trung Quốc giai đoạn đó.


Sự kiện chiến tranh Biên giới 1979 đã đưa lại cho chúng ta bài học lớn trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc nói riêng, các nước trên thế giới nói chung?


Tướng Lê Mã Lương: Liệu ở đâu trên thế giới này, một dân tộc luôn đi rao giảng về "nhân, "nghĩa" của đạo Khổng, về “môi, răng” của “tình láng giềng hữu nghị” lại hành xử thiếu suy nghĩ như vậy không?


Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từng tuyến bố: “Bá quyền và quân phiệt không có trong huyết quản của người Trung Quốc”, hoặc “phô bày sức mạnh quân sự chỉ thể hiện anh thiếu tầm nhìn hoặc thiếu cơ sở đạo đức chức không cho thấy anh mạnh”. 




   Bộ Giáo dục sẽ đưa cuộc chiến tranh biên giới, hải đảo vào sách giáo khoa (Ảnh: tienphong.vn)


 Tuy nhiên, chúng ta hãy xem cách họ đã làm với Việt Nam và nhiều nước trên thế giới để thấy rõ bản chất những toan tính, được che lấp bởi những phát biểu không thực chất của nhà cầm quyền Trung Quốc.


Vấn đề đặt ra là, trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải luôn trong thế chủ động, cảnh giác trước những âm mưu, nguy cơ từ những tham vọng, tính cơ hội…


Đó còn là bài học kinh nghiệm nghiệm bằng sương máu của hàng vạn người con Việt Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến vệ quốc, vấn đề phòng thủ đất nước, hoạch định chính sách ngoại giao với các nước khác trong tương lai. 


Từ những phân tích trên, theo ông việc không đưa đầy đủ dữ liệu về cuộc chiến tranh Biên giới 1979 trong sách giáo khoa, đã xứng đáng với ý nghĩa, tầm vóc của nó?


Tướng Lê Mã Lương: Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, chiến tranh vệ quốc 1979 đứng hàng đầu.


Cuộc chiến kéo dài hơn một thập kỷ là khoảng thời gian không phải dài, nhưng cũng không phải ngắn so với những gì chúng ta đã trải qua trước đó.


"Cuộc chiến đấu của quân và dân ta bảo vệ biên giới phía Bắc kết thúc vào đầu năm 1988 với hơn 3 vạn lính Trung Quốc phải đền tội và hàng nghìn phương tiện chiến tranh bị phá hủy....", 
Thiếu tướng Lê Mã Lương nói.


Nếu chúng ta tôn trọng lịch sử, hướng tới tương lai để bảo vệ đích thực toàn vẹn lãnh thổ, thì phải tổ chức tổng kết một cách nghiêm túc về cuộc chiến tranh vệ quốc này.


Nhưng nhiều năm qua, chúng ta đã không làm được điều đó. Đây là một sự thiếu sót lớn. 


Trước đó, ngày 30/12/2013, trong hội thảo do Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý đưa cuộc chiến tranh vệ quốc (1976 – 1988) vào sách giáo khoa.


Nhưng từ đó đến nay, Bộ GD&ĐT vẫn chưa có động thái gì. Một sự im lặng khó hiểu!


“Khoảng lặng” hàng thập kỷ ấy khiến người dân không hiểu được bản chất cuộc chiến tranh này.


Sự thiếu sót này là có tội với tiền nhân, lịch sử, đồng bào, đồng chí, những người chiến sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp chiến tranh giải phóng, bảo vệ tổ quốc.


Theo ông, khi đưa vào sách giáo khoa, vấn đề liên quan tới chiến tranh Biên giới 1979, và một số nội dung liên quan tới Hoàng Sa, Trường sa cần nhấn mạnh điều gì?


Tướng Lê Mã Lương: Cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc ở Biện giới Tây Nam, Biên giới phía Bắc và Biển Đông (1976 – 1988), phải đặt nó đúng bản chất, xứng đáng với tầm vóc lịch sử vốn có.


Do đó, trước hết cần tổ chức hội thảo khoa học, làm rõ bản chất cuộc chiến tranh này để cho toàn thể người dân Việt Nam hiểu rõ bản chất của cuộc chiến vệ quốc bi hùng ấy.


Vấn đề là đưa như thế nào để chúng ta vẫn giữ được hòa khí, mối quan hệ đối với các nước, nhưng vẫn nói lên đầy đủ bản chất của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.


Làm cho người dân thể hiện được niềm tự hào của mình trước thế hệ người dân Việt Nam đã bằng sương máu của mình, vì sự toàn vẹn của đất nước.


Lịch sử là sự khách quan, công bằng, trung thực. Nếu không đưa những sự kiện trên vào sách giáo khoa một cách đầy đủ, trung thực thì đó quả thật là một thiếu sót to lớn.


Để rồi người lớn đừng có trách thế hệ trẻ, ít quan tâm hoặc quay lưng với lịch sử nước nhà.


Hơn bao giờ hết, chúng ta phải tôn vinh đồng bào, những người chiến sĩ bởi chính họ là những người đã ngã xuống vì đất nước này. 


Người ta không sợ chiến tranh nên mới có hòa bình, nhưng không đồng nghĩa với sự hiếu chiến. Trong "gen" người Việt Nam, trong tư duy quân sự, và từ điển quân sự Việt Nam không bao giờ có hai từ “run sợ”. Điều này đã được chứng minh qua hàng ngàn năm lịch sử...


Do đó, không thể đánh đổi xương máu của đồng bào để che lấp sự thật lịch sử đồng thời nhận lấy thứ hòa hiếu viễn vông, không thực chất.


Việc trang bị những kiến thức lịch sử có tính chất thực tế đó góp phần xác lập bản lĩnh con người là vô cùng cần thiết để thế hệ trẻ bước vào đời, thực hiện trách nhiệm công dân với xã hội.


Nếu che đậy sự thật, không thực hiện cải cách nội dung lịch sử sẽ tạo ra sự hụt hẫng về kiến thức lịch sử Việt Nam và thế giới, để lại những hệ quả đáng lo ngại về việc kế thừa các giá trị di sản lịch sử và văn hóa dân tộc, trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trong định hướng phát triển nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh con người Việt Nam…

QUỐC TOẢN (THỰC HIỆN)

(Giáo Dục)
 
 
 
 
 
 
 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN "THÂN HỮU" LÀ GÌ ?



Jay Cost - Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” Là Gì

Trong mùa bầu cử này đã có nhiều thảo luận về tham nhũng, về việc các chính trị gia được “mua chuộc và rao bán”, và về “chủ nghĩa tư bản thân hữu” (hoặc cấu kết, bè phái). Những từ này có nghĩa là gì? Vì sao chúng ta nên quan tâm? Có một cách nào để giảm tham nhũng và khôi phục lại niềm tin của chúng ta vào chính phủ không? Nhà văn Jay Cost, một nhà bình luận cho tờ The Weekly Standard, trả lời các câu hỏi đó và đề xuất một giải pháp mà tất cả xã hội đều có thể có lợi.

Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu”. Nó là gì? Vì sao nó mang lại tiêu cực?

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng ta hãy nghĩ về chủ nghĩa tư bản theo mô hình cổ điển và tích cực. Nó chính là tiền đề cho sự trao đổi tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nhà kinh doanh độc lập.

Ví dụ bây giờ tôi muốn mua vài ngũ cốc (cereal). Cửa Hàng Tạp Hóa của Steve đang bán thương hiệu tôi muốn với giá $4. Cửa Hàng Tạp Hóa của Ted thì bán nó với giá $5. Tôi mua nó từ Steve, một điều đã tạo ra giá trị tối ưu cho cả tôi và ông ta. Trong khi đó, Ted bây giờ đã có một động lực để cắt giảm chi phí để cạnh tranh tốt hơn. Hãy lập đi lập lại giao dịch này hàng tỷ lần mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm, và đó là cách nền kinh tế của chúng ta hoạt động và phát triển. Hoặc ít nhất đó là cách đáng lẽ ra nó phải làm theo.

Bây giờ, còn Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” thì sao? Bây giờ, ví dụ chính phủ muốn mua vài ngũ cốc. Nói chính xác hơn, Ủy Ban Cho Việc Thâu Tóm Ngũ Cốc của Hạ Viện được giao nhiệm vụ cho việc đó. Steve vẫn bán nó với giá $4. Ted thì $5. Tôi mua từ Steve. Giá của ông ta là giá thấp hơn. Nhưng, Ủy Ban Cho Việc Thâu Tóm Ngũ Cốc lại mua từ Ted. Tại sao?

Bởi vì Ted đã vận động Ủy Ban đó. Bởi vì trụ sở công ty của ông ta nằm trong khu vực đại diện của Chủ Tịch Ủy Ban. Bởi vì ông ta đã nguyên góp nhiều hơn trong các cuộc bầu cử. Bởi vì ông ta đã hứa hẹn một công việc vận động cho một thành viên của Ủy Ban vẫn đang phân vân với quyết định và sắp về hưu vào năm tới. Đó là cách Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” hoạt động.

Và nó xảy ra trên khắp cơ quan chính phủ — từ hợp đồng quốc phòng, đến hỗ trợ nông nghiệp, các chương trình năng lượng sạch, chi tiêu hạ tầng, nhà ở giá phải chăng, tem phiếu lương thực, Y Tế Cho Người Già, Gói Y Tế của Obama, chính sách thuế. Bạn có thể nêu ra rất nhiều. Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” đang tồn tại ở đó.

Chủ nghĩa tư bản rất đạo đức bởi vì nó dựa trên trên một sự trao đổi tự nguyện giữa hai người độc lập – những người chỉ đồng ý với mối giao dịch vì nó tạo nên giá trị cho tất cả mọi người. Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” là vô đạo đức bởi vì một trong hai người — chính phủ — đã bị mua chuộc.

Điều này tạo ra ba vấn đề.

 Thứ nhất, nó không công bằng. Các chính trị gia đang dùng tiền của công chúng, nhưng không vì lợi ích chung của công chúng. Thay vào đó, họ thưởng cho các bạn bè của họ, những người hỗ trợ họ hoặc chính bản thân họ. Hiến Pháp của chúng ta cho phép Quốc Hội quyền để cung cấp phúc lợi chung. Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” vi phạm nguyên tắc linh thiêng này.

Thứ hai, nó vô cùng lãng phí. Trong ví dụ ngũ cốc ở trên, chính phủ đã trả thừa bằng cách mua từ Ted thay vì từ Steve. Điều đó là một sự lãng phí rõ ràng của tiền thuế nhân dân. Thậm chí, điều đó như ăn cắp tiền thuế của dân vậy. Còn đây là điều lãng phí hơn nữa. Ted phải dùng tiền để vận động chính phủ để lấy hợp đồng đó. Cho nên, ông ta đã không nhận được toàn số tiền trong giao dịch đó. Số tiền đó đáng lẽ ra có thể dùng để tạo ra một sản phẩm tốt hơn hoặc dùng vào những việc xây dựng tốt hơn. Các nhà kinh tế học gọi điều này là “sự tổn thất vô ích.” Và nó có thể trở nên rất đáng kể.

Hơn nữa, Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” làm xáo trộn nền kinh tế. Trong một số ngành — như y tế, vay học phí, mua nhà thế chấp, và hàng không — chính phủ là một trong những người tiêu thụ lớn nhất của hàng hóa và dịch vụ. Cho nên những quyết định trong chính sách có thể có những tác động rộng lớn và tiêu cực. Nguyên một cái ngành có thể trở thành, sau một thời gian, một khách hàng của chính phủ. Khi điều đó xảy ra thì mục đích của doanh nghiệp không phải là để xây dựng một bẫy chuột (vị thế cạnh tranh) tốt hơn, mà để giữ gìn các chính trị gia hài lòng. Vậy Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” làm xã hội tốn kém bao nhiêu mỗi năm? Rất khó để nói chính xác, nhưng con số đó lên đến hàng chục tỷ dollar, và có thể hơn nữa.

Thứ ba, nó dụ các chính trị gia vi phạm luật pháp. Một khi các chính trị gia cảm thấy tự do để tiêu tiền của công chúng cho mục đích chính trị riêng của họ, họ chỉ cần một bước để làm điều đó để đưa tiền vào túi riêng của mình hoặc đưa tiền vào quỹ vận động của họ, hoặc cả hai.

 Vậy thì chúng ta có thể làm gì? Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là công nhận rằng chính phủ phải có giới hạn. Đương nhiên, phải có một chính quyền quốc gia để quy định luật pháp cho xã hội, để thiết lập những luật chơi cho trò chơi và thi hành nó. Nhưng khi chúng ta mong chờ chính phủ để quảng bá một ngành nào đó, thay đổi vài lĩnh vực nào đó trong nền kinh tế, giúp vài nhóm cử tri nào đó, chúng ta thành lập một nền tảng cho Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu” và những điều tiêu cực kèm theo như — chính sách ưu đãi, lãng phí, trộm cắp và những hình thức tham nhũng khác.

Tổng Thống Thứ Bảy của Hoa Kỳ, Andrew Jackson, đã có một quan điểm rất hữu ích về đề tài này. “Không có một sự ma quái cần thiết nào trong chính phủ,” ông ta nói. ”Sự ma quái đó chỉ tồn tại trong sự lạm dụng của chính phủ. Nếu nó giới hạn chính nó trong sự bảo vệ công bằng, và, cũng như Thiên Đường đang làm mưa, nó ban ân huệ một cách công bằng cho người cao và thấp, người giàu và người nghèo, thì nó sẽ là một ân huệ hoàn hảo.”

Jackson đã nói đúng. Một chính phủ giới hạn được hạn chế trong việc bảo vệ bình đẳng không thể chơi trò phe phái thân hữu. Một chính phủ giới hạn, nếu mục đích là dẹp bỏ Chủ Nghĩa Tư Bản “Thân Hữu”, thì đó là điểm bắt đầu.

Tôi là Jay Cost của tờ Weekly Standard cho Đại Học Prager.

 Jay Cost, What is Crony Capitalism?, Prager University

Dịch bởi: Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM

23 tháng 2, 2016

HẾT MÙI TỚI THÂN

 

Hết “Mùi” tới “Thân”


 

Bây giờ thì không phải là thời của Ất Mùi (Dê) nữa mà là thời của Bính Thân (Khỉ).
Chữ “Mùi, Thân”chẳng liên quan gì với “dê, khỉ”, nhưng những năm Mùi, năm Thân như Kỷ Mùi (1979), Mậu Thân (1968)… đều gọi chung là năm “Dê ” năm“ Khỉ”. Ai hợp với Mùi, vừa qua làm ăn phát đạt, luyến tiếc năm cũ. Ai hợp Thân thì hy vọng năm nay. Ai không hợp cả Mùi, Thân thì Dê cũng như Khỉ, mong gì mà mong. Năm nay, Bính Thân, không biết lành dữ thế nào nhưng nghe “thân, thân khỉ, khỉ” thì có kẻ chẳng mấy thích, như câu “người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi /Mà em thì lại ngậm ngùi tuổi Thân”.
Trong cơ quan, đơn vị cũng vậy, khi có sự chuyển quyền từ xếp A sang xếp B các nhân viên hay theo dõi. Những ai thuộc nhóm của chủ mới thì phấn khởi, ai thuộc “đệ” của chủ cũ thì… chờ xem…, còn mấy anh “không thuộc phe nào thì “kệ”, A hay B thì cũng một cốt một đồng thôi.
Năm này cũng như các năm khác, nhiều người thức đón giao thừa, giờ phút chuyển giao từ “Dê” qua “Khỉ”. Họ ngồi nghe nhạc xuân, xem các “live show”, đặc biệt họ chờ mục “Sớ Táo quân”, bởi mục này vui vui. Vừa rồi, đất nước có nhiều sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên ngoài các Táo quen: giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, lẽ ra nên có Táo Hoàng Sa, Táo Trường Sa, Táo Đại hội, Táo TPP (Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương – một hiệp định kinh tế rất lớn, có Việt Nam tham gia). Vì là có nhiều đài truyền hình, cho nên cùng là “Sớ Táo quân” nhưng có những kịch bản, dàn dựng, trình diễn khác nhau. Tấu sớ là “hài” hay “hề”, dù gọi là gì, cũng là đóng kịch vui. Một vở diễn dù dàn dựng công phu, bài bản, diễn xuất lớp lang hoành tráng đến mấy cũng chỉ là kịch. Có người thích hài theo phong cách Bắc, có người thích hề theo kiểu Nam. Tùy, không nên nói (hề) miền nào hơn (hề) miền nào, hề cả mà. Đó là chưa nói tới chuyện nhiều khi nhạt nhẽo, chưa xem đã biết, hoặc (bị) xem hoài, chán quá trời!
*
Ngày 15.02.2016 (mùng 8 tháng giêng Bính Thân) được tin, một phụ nữ (gốc) Việt bà Jacqueline Nguyễn được đề cử giữ chức Chánh án tối cao của Tòa án Liên bang Mỹ, thay ông Chánh án (có tư tưởng bảo thủ) vừa mới chết.
Bà Jacqueline Nguyễn là một trong các ứng viên Tổng thống Mỹ Barack Obama có thể cân nhắc lựa chọn cho vị trí Thẩm phán tối cao Mỹ, sau khi ông Antonin Scalia qua đời, theo Reuters.
Báo Đất Việt viết: “Sau khi ông Antonin Scalia, Thẩm phán Tòa án tối cao Mỹ qua đời ở tuổi 79, bà Jacqueline Nguyen, một phụ nữ gốc Việt được coi là một trong những ứng viên tiềm năng có thể được xem xét để lựa chọn thay thế.
Bà Jacqueline Nguyễn Thị Hồng Ngọc sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam. Bà cùng gia đình chuyển đến Mỹ sinh sống khi mới 10 tuổi. Năm 1987, bà tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh tại trường Cao đẳng Occidental. Bốn năm sau, bà tiếp tục đạt được bằng cử nhân luật tại Trường Luật UCLA.
Từ năm 1991 đến năm 1995, bà Jacqueline Nguyễn làm việc tại công ty luật Musick, Peeler & Garrett, chuyên giải quyết các vụ việc kiện tụng dân sự…”.
Ai muốn biết thêm xin đọc các báo Pháp Luật, Nông Thôn, VNEXPRESS… Còn bài này không viết về chuyện trên, không viết để ca ngợi một nữ thẩm phán (gốc Việt) dù rằng người đó rất đáng ca ngợi. Bởi người viết không biết giáp ất gì về vị thẩm phán Jacqueline Nguyễn, và nếu có ca ngợi bà thì cũng chỉ là “khen phò mã tốt áo”, không cần thiết. Lại nữa, đây không phải là người Việt duy nhất, đầu tiên thành danh ở nước ngoài.
Hồi trước dân ta học chữ Tàu, nhiều người Việt Nam đã làm cho “bạn” phải nể nang tài văn thơ, đối đáp. Ngày nay, trong chính trường có người Việt Nam làm Phó Thủ tướng Đức, có người là Nghị viên, Hạ nghị sĩ Úc. Trong lĩnh vực khoa học có những vị vừa là khoa bảng vừa là nhà nghiên cứu nổi tiếng.Trong văn học, luật học, nghệ thuật thì người Việt du học, nhiều vị đỗ các bằng cấp rất cao tại những đại học nổi tiếng thế giới mà những trí thức nước sở tại phải phục. Trong làm ăn, nhiều người Việt rất thành đạt. Sơ lược vậy, không thể kể hết cụ thể từng trường hợp, từng vị. Những vị này đã làm rạng rỡ đất nước, đất nước cũng hãnh diện khi có những người con như thế, nhưng rồi cũng chỉ hãnh diện một nửa, chỉ hãnh diện vì các người đó có “gốc Việt”. Đất nước chỉ hưởng tiếng, không hưởng miếng, vì hầu hết đang “an vị” tại ngoại quốc.
Bà Jacqueline Nguyễn, chắc chắn là “number one” về lãnh vực pháp luật, pháp lý. Nhân chuyện này, nhớ lại rằng Việt Nam thừa nhận nền tư pháp còn nhiều bất cập như: xử án còn oan sai, các văn bản, nghị định, sắc luật, thông tư của các bộ ngành còn chồng chéo nhau, thậm chí là có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Mới đây, 17.2.2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thay mặt Chính phủ trình Quốc hội xin dời lui ngày thông qua “Luật Biểu tình”, để có thời gian hoàn chỉnh. Không biết Luật Biểu tình đã được soạn như thế nào và “mắc mứu” chuyện gì mà hoãn tới hoãn lui mãi. Lần này thì, đến nỗi, ông Chủ tịch Quốc hội cho rằng như vậy là thiếu nghiêm túc (mà có gì nghiêm túc đâu), xin đọc bài này: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/chu-tich-quoc-hoi-xin-lui-luat-bieu-tinh-la-thieu-nghiem-tuc-2016021712355227.htm
Bây giờ hỏi, nếu bà Jacqueline Nguyễn về nước thì liệu có được tin dùng? Có người bảo “OK”. Bởi, thường khi tiếp các quan chức nước ngoài, đặc biệt là Âu Mỹ, Việt Nam hay nhờ họ giúp đỡ, tư vấn về giáo dục, kinh tế, pháp luật, phòng chống tham nhũng. Như thế, bà Nguyễn ở vào vị trí trên thì có gì là không tốt? Ngược lại, có người bảo “NO” vì, chắc bà không học môn “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bà học một nơi làm một nẻo, khác nào bắt cá nước mặn về trong nước ngọt. Chẳng được đâu. Về cũng như không. Đã có nhiều người Việt đỗ các bằng cấp rất cao tại các trường ngoại quốc danh tiếng, họ tình nguyện về nước phục vụ, nhưng giấc mơ phục vụ không thành. Có vị đành “rửa tay gác kiếm”, có vị lại phải khăn gói quả mướp ra đi. Các vị vẫn là Việt kiều yêu nước, “khúc ruột ngàn dặm”.
Hiện nay Việt Nam xếp thứ 9 trên thế giới về số du học sinh tại Mỹ, có 19.000 người (theo VOV, Báo Mới ngày 19.2.2016 dẫn lại). Thành thật mà nói, trong số đó cũng có nhiều người học thực, học giỏi, sẽ thành danh này nọ, đạt được những giải thưởng lớn quốc tế. Nhưng quan trọng là bao nhiêu người sẽ trở về. 13 quán quân “Đường lên đỉnh Olympia” sau khi du học xong thì 12 người ở lại nước ngoài?!
Những nước nghèo cần người tài giỏi và tiền của để phát triển, có lẽ cần người tài hơn cả tiền của vì một số nước không có “rừng vàng biển bạc”, không được thiên nhiên ưu đãi, nhưng nhờ có người tài mà họ đã phát triển. Một số nước, họ không có công sinh mà có công dưỡng, và biết dùng người giỏi bất kể người đó có “lý lịch” gốc gác như thế nào. Nước Đức đã dùng một người Việt làm Phó Thủ tướng, chọn một người Đông Đức làm Thủ tướng. Nước Mỹ định bổ nhiệm một người gốc Việt làm Thẩm phán, cách đây 8 năm bầu một người gốc Keynia làm Tổng thống. “Liều” thật. Họ không vòng vòng trong mấy con giáp, cứ hết “Chuột” tới “Trâu”, hết “ Mùi” tới “Thân”.
T.K.N.
Tác giả gửi BVN